VẬN DỤNG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ HỢP TÁC XÃ GẮN VỚI CHUYỂN ĐỔI SỐ, GÓP PHẦN QUAN TRỌNG ĐƯA KHÁNH HÒA VỮNG BƯỚC TRONG THẬP NIÊN TĂNG TRƯỞNG HAI CON SỐ VÀ NÂNG TẦM PHÁT TRIỂN

lmhtx.khanhhoa.gov.vn ── [ In trang Thứ tư, 08/4/2026 ]

Trong bối cảnh chuyển đổi số đang trở thành xu thế tất yếu, tác động sâu rộng đến mọi lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội, việc vận dụng và phát triển sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh về hợp tác xã càng có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Đối với Khánh Hòa, phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã gắn với chuyển đổi số không chỉ nhằm nâng cao hiệu quả tổ chức sản xuất, mà còn là giải pháp quan trọng để tái cấu trúc mô hình tăng trưởng theo hướng hiện đại, bao trùm và bền vững, từng bước hiện thực hóa mục tiêu trở thành thành phố trực thuộc Trung ương theo tinh thần Nghị quyết số 09-NQ/TW, ngày 28/01/2022 của Bộ Chính trị về xây dựng, phát triển tỉnh Khánh Hòa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định kinh tế tập thể là một “mắt xích” then chốt trong mục tiêu phát triển nhanh và bền vững, hướng tới nền kinh tế số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn. Đại hội nhấn mạnh yêu cầu “…Phát huy đầy đủ chức năng, vai trò của các khu vực kinh tế”, trong đó “kinh tế hợp tác, kinh tế tập thể, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và các loại hình kinh tế khác giữ vai trò quan trọng”. Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với các hợp tác xã phải chuyển đổi mạnh mẽ về mô hình phát triển: từ quy mô manh mún, nhỏ lẻ sang liên kết chuỗi giá trị; từ quản trị truyền thống sang quản trị trên nền tảng dữ liệu số, gắn kết chặt chẽ với thị trường. Đây là xu thế tất yếu trong tiến trình hiện đại hóa khu vực kinh tế tập thể.

Trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa, nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới và phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã trong bối cảnh hội nhập quốc tế, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 01-NQ/TU về tăng trưởng kinh tế hai con số giai đoạn 2025 – 2030: Trong đó xác định mục tiêu đến năm 2030 Khánh Hòa sớm trở thành thành phố trực thuộc Trung ương - là một cực tăng trưởng cao của cả nước - nhân dân có mức sống cao, hiền hoà và hạnh phúc. Tập trung vào bốn trụ cột động lực tăng trưởng kinh tế gồm: (1) Công nghiệp; (2) Năng lượng; (3) Du lịch, Dịch vụ; (4) Đô thị, Xây dựng. Đột phá phát triển khoa học, công nghệ và chuyển đổi số. Khơi thông ba điểm nghẽn, nút thắt gồm: (1) Hoàn thiện đồng bộ hạ tầng chiến lược; (2) Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; (3) tập trung xử lý các công trình, dự án tồn động kéo dài và đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả đầu tư công. Đồng thời Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh cũng đã ban hành Chương trình hành động số 46-CTr/TU nhằm cụ thể hóa thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể trong giai đoạn mới; UBND tỉnh ban hành Kế hoạch số 1627/KH-UBND chỉ đạo các cơ quan quản lý nhà nước từ tỉnh đến địa phương hoàn thiện và triển khai nhiều cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển khu vực kinh tế tập thể, tập trung vào các lĩnh vực trọng tâm như: đất đai, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Nhờ đó, môi trường đầu tư, kinh doanh trên địa bàn tỉnh từng bước được cải thiện theo hướng đồng bộ, tạo nền tảng để các hợp tác xã tiếp cận hiệu quả hơn các nguồn lực về vốn, công nghệ và thị trường, góp phần thúc đẩy khu vực kinh tế tập thể phát triển ổn định, bền vững.

Tính đến tháng 3 năm 2026, toàn tỉnh có 375 hợp tác xã và 01 liên hiệp hợp tác xã, thu hút hơn 60.500 thành viên. Tổng vốn điều lệ đạt trên 2.200 tỷ đồng; doanh thu bình quân đạt 2,083 tỷ đồng/HTX/năm; thu nhập bình quân thành viên đạt 55,5 triệu đồng/năm. Trong đó có 296 Hợp tác xã nông nghiệp, 81 Hợp tác xã phi nông, 07 Quỹ tín dụng nhân dân, và 30 doanh nghiệp thành viên. Các Hợp tác xã phát triển đa dạng, nhiều lĩnh vực như: nông nghiệp, trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng, khai thác thuỷ sản, diêm nghiệp; xây dựng, vận tải, dịch vụ thương mại, sản xuất - kinh doanh, công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp; tín dụng, hợp tác xã lĩnh vực du lịch cộng đồng có xu hướng ngày càng phát triển. Trong đó Hợp tác xã nông nghiệp chiếm tỷ lệ lớn, đóng vai trò quan trọng trong tổ chức sản xuất, liên kết tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp của địa phương. Thế mạnh của các Hợp tác xã trên địa bàn tỉnh tập trung vào các Hợp tác xã: Nho, táo, tỏi, măng tây, hành tím, dưa lưới, nha đam, bưởi, sầu riêng, xoài, thịt dê, cừu, heo đen, gà tươi, tôm hùm, ốc hương, tôm thẻ, rong biển, các Hợp tác xã làng nghề truyền thống như: Trầm hương, gốm Bầu Trúc ... Đặc biệt trong thời gian gần đây, các Hợp tác xã nông nghiệp công nghệ cao nho, táo, măng tây, nha đam, dưa lưới đã ứng dụng tiến bộ khoa học, kỹ thuật vào sản xuất, từng bước chuyển đổi số trong sản xuất, quản lý, marketing sản phẩm; ứng dụng công nghệ phân vi sinh trong nông nghiệp, sử dụng máy bay không người lái trong sản xuất, dây chuyền máy móc đóng gói đạt tiêu chuẩn, mẫu mã bao bì đẹp mắt, có tích hợp mã QR công khai minh bạch nguồn gốc xuất xứ, nhiều hợp tác xã đưa vào sử dụng phần mềm quản lý nguyên liệu đầu vào, phần mềm kế toán, ứng dụng khai thuế theo quy định của nhà nước. Nổi bật có Hợp tác xã nông nghiệp hành tím Nhơn Hải tại phía Nam Khánh Hòa, Hợp tác xã không sử dụng thuốc hóa học, chuyển sang dùng thuốc sinh học cho sản xuất hành tím và áp dụng công nghệ tưới nhỏ giọt. Quy trình phun xịt, bón phân đều phải ghi chép nhật ký rõ ràng để truy xuất nguồn gốc, do đó sản phẩm hành tím của Hợp tác xã đã đạt OCOP 4 sao, vùng nguyên liệu 35 ha đạt chuẩn mã số vùng trồng, xuất khẩu vào thị trường khó tính như Nhật Bản, Indonesia và đặc biệt là đơn vị đang khẩn trương hoàn thiện các chứng nhận FDA và các thủ tục kiểm dịch thực vật để xuất khẩu sang thị trường Mỹ, các thị trường khu vực Trung Đông cũng đang được nghiên cứu về tiêu chuẩn chứng chỉ Halal để sớm đưa sản phẩm sang tiếp cận. Các Hợp tác xã Nuôi trồng thuỷ sản Vạn Ninh, Nuôi biển công nghệ cao Vạn Ninh, Nuôi trồng thủy sản du lịch Vân Phong, Nuôi biển công nghệ cao Hòn Nội Cam Lâm đang ứng dụng các công nghệ nuôi biển công nghệ cao, như đưa vào nuôi bằng lồng HDPE, đưa các công nghệ nuôi biển tiên tiến nhất hiện nay như hệ thống cho ăn thông minh, robot vệ sinh lưới lồng, camera dưới nước tích hợp AI, IOT, kết hợp với các thiết bị giám sát từ xa, cho hiệu quả nuôi biển nâng cao rõ rệt, sản lượng thuỷ sản đảm bảo, làm mô hình cho các hộ nuôi lồng bè truyền thống dần dần chuyển sang nuôi biển công nghệ cao.

Từ thực tiễn phát triển, có thể khái quát một số kết quả nổi bật, như sau:

Thứ nhất, phát triển sản xuất theo chuỗi giá trị, từng bước nâng cao hiệu quả liên kết và năng lực thị trường của hợp tác xã. Các hợp tác xã đã chuyển dịch từ mô hình sản xuất nhỏ lẻ sang tổ chức sản xuất có liên kết, gắn kết các khâu: sản xuất - chế biến - tiêu thụ. Trên địa bàn tỉnh đã hình thành được 40 chuỗi liên kết, sản xuất cung cấp thực phẩm nông sản, thủy sản an toàn với các sản phẩm chủ lực như tôm hùm, ốc hương, măng tây, nho, táo, xoài, sầu riêng.

Thứ hai, phát triển mô hình kinh tế hợp tác đa giá trị, gắn với xây dựng thương hiệu và hội nhập quốc tế. Khu vực kinh tế tập thể ngày càng khẳng định vai trò nòng cốt trong Chương trình OCOP, góp phần chuẩn hóa và nâng tầm giá trị nông sản địa phương với 600 sản phẩm đạt chuẩn OCOP 3 sao, 4 sao, và 5 sao.

Thứ ba, bước đầu xác lập nền tảng số - động lực quan trọng cho giai đoạn phát triển mới. Thực hiện chiến lược chuyển đổi số, một số hợp tác xã đã chủ động ứng dụng công nghệ vào công tác quản trị và kết nối tiêu thụ sản phẩm. Các giải pháp như truy xuất nguồn gốc qua mã QR, tham gia các sàn thương mại điện tử và số hóa thông tin chuỗi liên kết sản phẩm an toàn đã được triển khai bước đầu nhằm tăng tính minh bạch. Với sự hỗ trợ của các chương trình khoa học - công nghệ, các hợp tác xã đang dần thay đổi tư duy, hướng tới các mô hình kinh tế số và kinh tế tuần hoàn.

Những chuyển biến tích cực của khu vực kinh tế tập thể, hợp tác xã đã đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng kinh tế của tỉnh khoảng 2,5% GDP, và đóng góp gián tiếp thông qua tác động tới kinh tế hộ thành viên (chiếm khoảng 30% GDP của cả tỉnh).

Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, khu vực hợp tác xã vẫn còn những hạn chế mang tính cấu trúc như: Quy mô sản xuất nhỏ, năng lực tài chính hạn chế; trình độ quản trị chưa đồng đều; liên kết chuỗi giá trị thiếu bền vững. Đặc biệt, chuyển đổi số mới dừng ở mức ứng dụng bước đầu, chưa trở thành phương thức vận hành chủ đạo.

Nhiệm vụ và giải pháp đổi mới mô hình hợp tác xã tỉnh Khánh Hòa trong giai đoạn kỷ nguyên mới

Bước vào giai đoạn mới, nhằm thực hiện có hiệu quả mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ I đề ra, Nghị quyết số 48-NQ/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Nghị quyết số 01-NQ/TU về tăng trưởng kinh tế hai con số giai đoạn 2025 – 2030, phấn đấu đến năm 2030 trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, đồng thời tiếp tục triển khai thực hiện có hiệu quả Chương trình hành động số 46-CTr/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể trong giai đoạn mới; Khánh Hòa xác định phát triển kinh tế tập thể là một trong những nhiệm vụ quan trọng góp phần hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng nhanh và bền vững. Đổi mới mô hình hợp tác xã theo hướng hiện đại, ứng dụng mạnh mẽ khoa học - công nghệ và chuyển đổi số sẽ tạo động lực quan trọng để tái cấu trúc nền kinh tế và nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh. Trên tinh thần đó, tỉnh tập trung triển khai các nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm:

Một là, đổi mới về tư duy và mô hình phát triển. Chuyển đổi căn bản từ tư duy “sản xuất thuần túy” sang “kinh tế đa giá trị”, gắn sản xuất với chế biến, thương mại, dịch vụ và du lịch sinh thái. Ưu tiên phát triển các mô hình phù hợp với lợi thế đặc thù của tỉnh như: nông nghiệp công nghệ cao, du lịch cộng đồng gắn với kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh.

Hai là, hoàn thiện cơ chế, chính sách và tháo gỡ các “điểm nghẽn” về nguồn lực. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách đồng bộ, thông thoáng, tạo môi trường thuận lợi nhất cho các tổ chức kinh tế tập thể. Tập trung tháo gỡ các rào cản về vốn, đất đai và hạ tầng sản xuất; sớm thành lập Quỹ hỗ trợ phát triển hợp tác xã tỉnh, mở rộng các kênh tín dụng ưu đãi để các hợp tác xã tiếp cận nguồn vốn đổi mới công nghệ.

Ba là, phát triển nguồn nhân lực và xây dựng đội ngũ quản lý thế hệ mới. Chú trọng đào tạo đội ngũ quản lý có tư duy thị trường, kỹ năng số và năng lực quản trị hiện đại. Đẩy mạnh chính sách thu hút trí thức trẻ, chuyên gia tham gia khu vực kinh tế tập thể.

Bốn là, tăng cường liên kết hệ sinh thái liên kết “4 nhà”, hình thành cấu trúc phát triển bền vững. Đẩy mạnh liên kết giữa Nhà nước - Nhà khoa học - Doanh nghiệp - Hợp tác xã thành cấu trúc vận hành chủ đạo. Phát huy vai trò kiến tạo của Nhà nước, vai trò dẫn dắt thị trường của doanh nghiệp và vai trò tổ chức sản xuất của hợp tác xã, tạo nền tảng phát triển bền vững. Liên kết dựa trên nguyên tắc hài hòa lợi ích, chia sẻ rủi ro, lấy khoa học công nghệ làm nền tảng nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị sản phẩm.

Năm là, lấy chuyển đổi số làm động lực đột phá, hình thành mô hình “hợp tác xã số” và “thành viên số”. Đây là khâu đột phá nhằm tái cấu trúc mô hình hoạt động trên ba trụ cột: Quản trị số, Thị trường số và Dữ liệu số. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong quản lý, phát triển “gian hàng số” và hệ thống truy xuất nguồn gốc minh bạch, hướng đến mục tiêu hình thành đội ngũ “thành viên số” thành thạo công nghệ, có khả năng tiếp cận thông tin nhanh, tham gia thị trường trên môi trường số.

Sáu là, phát triển chuỗi giá trị gắn với thương hiệu địa phương và hội nhập quốc tế. Tập trung xây dựng và phát triển các chuỗi ngành hàng có lợi thế cạnh tranh cao, đặc biệt là nông nghiệp thông minh và nuôi biển công nghệ cao. Chuyển mạnh từ “sản xuất cái mình có” sang “sản xuất cái thị trường cần”, xây dựng thương hiệu OCOP gắn với chuỗi giá trị số; chủ động khai thác hiệu quả các hiệp định thương mại tự do nhằm mở rộng thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh, từng bước đưa sản phẩm của Khánh Hòa tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

Bảy là, nâng cao hiệu lực lãnh đạo và tổ chức thực hiện theo phương châm “6 rõ”: Rõ người, rõ việc, rõ trách nhiệm, rõ tiến độ, rõ sản phẩm và rõ hiệu quả. Tăng cường vai trò lãnh đạo của cấp ủy, chính quyền và tính chủ động của Liên minh Hợp tác xã tỉnh trong việc đồng hành, tháo gỡ khó khăn cho các đơn vị thành viên. Mọi nhiệm vụ phát triển kinh tế tập thể phải được triển khai quyết liệt, thường xuyên kiểm tra, giám sát và chú trọng nhân rộng những mô hình sáng tạo, cách làm hay ngay từ cơ sở để tạo sức lan tỏa trong toàn tỉnh.

Đối với Khánh Hòa, phát triển hợp tác xã không chỉ nhằm gia tăng giá trị kinh tế, mà còn hướng tới mục tiêu sâu xa hơn là nâng cao chất lượng cuộc sống của Nhân dân, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, đặc biệt là khu vực nông thôn, miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Trên cơ sở đó, tỉnh xác định phát triển kinh tế tập thể, hợp tác xã là một trong những trụ cột quan trọng trong chiến lược phát triển bao trùm, bền vững và thích ứng với bối cảnh hội nhập quốc tế. Với quyết tâm chính trị cao và định hướng phát triển đúng đắn, Khánh Hòa sẽ tiếp tục đẩy mạnh đổi mới mô hình hợp tác xã theo hướng hiện đại, hiệu quả, gắn với kinh tế số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn. Qua đó, góp phần đưa Khánh Hòa vững bước tiến vào thập niên nâng tầm phát triển, đến năm 2030, trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, là trung tâm dịch vụ, du lịch cảng biển quốc tế, trung tâm dữ liệu quốc gia và khu vực, cực tăng trưởng cao của cả nước.

Tỉnh ủy Khánh Hòa